Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vừa thông báo kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại hội nghị sơ kết 1,5 năm thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW (Nghị quyết 57).
Theo đánh giá, Nghị quyết 57 đã tạo ra chuyển biến rõ rệt trong nhận thức và hành động của toàn hệ thống chính trị.
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực quan trọng để đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ của quốc gia.
Việt Nam đã xác định 10 công nghệ chiến lược gắn với 30 sản phẩm công nghệ chiến lược và 20 bài toán lớn của quốc gia. Nhiều doanh nghiệp trong nước từng bước làm chủ công nghệ và phát triển sản phẩm phục vụ thị trường trong nước cũng như xuất khẩu.
Tuy nhiên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đánh giá, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn nhiều tồn tại vẫn chưa được giải quyết triệt để. Các điểm nghẽn hiện nay tập trung ở thể chế, hạ tầng, nguồn nhân lực, dữ liệu, giải ngân vốn, an ninh mạng, an toàn thông tin. Kết quả thực tế vẫn chưa tương xứng với chủ trương, nguồn lực và quyết tâm chính trị. Khâu yếu nhất hiện nay chính là tổ chức thực hiện.

Không đánh đổi an ninh, an toàn để phát triển
Để triển khai quyết liệt Nghị quyết 57, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh tập trung vào 4 yêu cầu: Tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 57 gắn với triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; Chuyển mạnh sang tạo ra sản phẩm, kết quả và giá trị cụ thể, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số; tạo chuyển biến đồng bộ; Đổi mới mạnh mẽ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện.
Tập trung nguồn lực làm chủ và phát triển các công nghệ chiến lược thành sản phẩm cụ thể, nhất là trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, robot và tự động hoá, công nghệ sinh học và y sinh, vật liệu và năng lượng, chip bán dẫn, an ninh mạng, công nghệ lượng tử, thiết bị bay không người lái, công nghệ biển, đại dương và lòng đất.
Với từng công nghệ chiến lược, phải xác định rõ mục tiêu theo các mốc 1 năm, 3 năm, 5 năm và 10 năm về công nghệ được làm chủ, sản phẩm hình thành, khả năng xuất khẩu và đóng góp cho tăng trưởng, quốc phòng, an ninh, năng lực tự chủ quốc gia.
Đồng thời, phải đặc biệt coi trọng bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin, an ninh dữ liệu và chủ quyền số quốc gia; không đánh đổi an ninh, an toàn để lấy phát triển, nhưng cũng không vì lo ngại rủi ro mà làm chậm đổi mới sáng tạo.
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu, nền tảng số phải được thiết kế, xây dựng và vận hành theo yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn ngay từ đầu. Các cơ quan, đơn vị, địa phương chịu trách nhiệm chính về an ninh, an toàn đối với hệ thống thông tin và dữ liệu thuộc phạm vi quản lý.
Bên cạnh đó, đối với hoạt động phát triển công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, chip bán dẫn và an ninh mạng, các bộ và cơ quan được giao chủ trì phải chịu trách nhiệm về sản phẩm cuối cùng, kết quả, hiệu quả cùng tác động thực tế theo các mốc thời gian cụ thể.