Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, vừa ban hành Kế hoạch số 04-KH/BCĐTW về bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin và an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị. Kế hoạch được ban hành nhằm xây dựng không gian mạng quốc gia an toàn, vững mạnh, có năng lực phòng vệ tốt và khả năng chống chịu cao, qua đó bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh và lợi ích quốc gia trên không gian mạng.
Xây dựng hạ tầng, phát triển công nghiệp an ninh mạng tự chủ
Cùng với việc tạo chuyển biến trong nhận thức về an ninh mạng, hoàn thiện cơ chế pháp lý để khuyến khích đổi mới sáng tạo, bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia chất lượng cao, năm 2026, kế hoạch tập trung mục tiêu xây dựng, phát triển hạ tầng an ninh mạng quốc gia hiện đại, đồng bộ, đủ năng lực bảo vệ chủ quyền không gian mạng; Thúc đẩy ứng dụng các công nghệ tiên tiến như AI, BigData, giám sát thông minh để phát hiện sớm và xử lý kịp thời các mối đe doạ mạng. Chuyển đổi sang mô hình phòng thủ chủ động, các giải pháp mã hoá hiện đại phục vụ bảo vệ dữ liệu quan trọng, dữ liệu bí mật và giao dịch của Nhà nước. Khuyến khích nghiên cứu, phát triển và làm chủ các công nghệ an ninh mạng thế hệ mới, tăng cường năng lực tự chủ công nghệ, hình thành hệ sinh thái công nghiệp an ninh mạng quốc gia vững mạnh.
Đến năm 2030, mục tiêu Việt Nam tiếp tục trong nhóm 20 quốc gia được đánh giá cao về Chỉ số An toàn, an ninh mạng toàn cầu của Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU); Hoàn thiện cơ chế pháp lý để khuyến khích đổi mới sáng tạo, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mới tham gia thị trường, sản phẩm, giải pháp an ninh mạng chất lượng có cơ hội phát triển.
Kế hoạch 04 cũng nêu rõ, xây dựng và đưa vào vận hành hiệu quả kiến trúc bảo vệ an ninh mạng quốc gia đa lớp hiện đại, đồng bộ, hiệu quả bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin và an ninh dữ liệu; Ban hành quy hoạch hạ tầng CNTT tổng thể từ Trung ương đến địa phương. Tự chủ nghiên cứu, sản xuất và làm chủ công nghệ lõi đối với các sản phẩm an ninh mạng, bảo mật thông tin và an ninh dữ liệu; Đưa tỷ trọng sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng Make in Vietnam chiếm trên 50% thị trường trong nước và bắt đầu hình thành năng lực xuất khẩu đạt chuẩn quốc tế. Đào tạo và xây dựng được đội ngũ 10.000 chuyên gia an ninh mạng trình độ cao, đáp ứng nhu cầu trong nước và quốc tế.
Tầm nhìn đến năm 2045, xây dựng nền an ninh mạng quốc gia bền vững, tự chủ, có năng lực cạnh tranh toàn cầu. Hình thành đội ngũ chuyên gia đầu ngành, nhà khoa học công nghệ số trình độ quốc tế; Làm chủ các công nghệ cốt lõi, giảm phụ thuộc nhập khẩu. Phát triển hạ tầng an ninh mạng và hạ tầng số hiện đại; Xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo, khu công nghiệp công nghệ cao; Doanh nghiệp trong nước trở thành trụ cột của ngành công nghiệp an ninh mạng Việt Nam.
Ưu tiên các sản phẩm, giải pháp an ninh mạng nội địa trong các dự án, hệ thống trọng yếu
Kế hoạch 04 đề ra nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2026, nhiệm vụ đến năm 2030 và giao nhiệm vụ cụ thể tới các đảng ủy trực thuộc Trung ương, tỉnh, thành ủy.
Theo đó, Kế hoạch 04 yêu cầu thực hiện 7 nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2026: Xây dựng, vận hành Hệ thống phòng vệ mạng quốc gia nhằm bảo vệ an ninh mạng vòng ngoài cho các hệ thống thông tin, tài nguyên trọng yếu trên Internet của các cơ quan ban, bộ, ngành, địa phương, cơ quan, doanh nghiệp Việt Nam.
Rà soát, trình cấp có thẩm quyền xem xét ban hành hoặc điều chỉnh quy hoạch hạ tầng công nghệ thông tin tổng thể từ Trung ương đến địa phương theo hướng tập trung, chuẩn hoá trung tâm dữ liệu. Đầu tư, nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu và tuân thủ quy hoạch đã được ban hành.
Ban hành cơ chế ưu đãi đặc biệt và chính sách ưu tiên sử dụng sản phẩm, giải pháp, dịch vụ an ninh mạng, bảo mật thông tin và an ninh dữ liệu Make in Vietnam. Từng bước hình thành hệ sinh thái an ninh mạng quốc gia vững mạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Đến năm 2030, phát triển hạ tầng an ninh mạng hiện đại, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Triển khai kiến trúc bảo vệ an ninh mạng quốc gia đa lớp hỗ trợ bảo vệ cho toàn bộ hạ tầng mạng Internet Việt Nam và các hệ thống thông tin. Quy hoạch và triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp: bảo vệ hạ tầng mạng; Bảo vệ thiết bị đầu cuối; Bảo vệ ứng dụng, dịch vụ; Bảo vệ dữ liệu; Bảo vệ người dùng.
Tập trung nguồn lực quốc gia nghiên cứu, làm chủ các công nghệ lõi chiến lược; Khuyến khích xã hội hoá nghiên cứu, phát triển và ứng dụng mật mã dân sự phục vụ bảo mật thông tin. Bảo vệ các hệ thống thông tin quan trọng, các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, tài chính, y tế, giáo dục, bảo hiểm, tư pháp... Thiết lập cơ chế thống nhất về tiêu chuẩn, quy chuẩn bảo mật; Bảo đảm an ninh mạng ngay từ thiết kế đối với các trung tâm dữ liệu quan trọng, các hệ thống số, nền tảng số và ứng dụng mới; khắc phục ngay những lỗ hổng bảo mật trong các hệ thống thông tin. Kết nối, chia sẻ dữ liệu liên thông giữa các ban, bộ, ngành, địa phương trên nguyên tắc bảo mật, an toàn, đúng pháp luật, khắc phục tình trạng cát cứ, phân mảnh dữ liệu.
Đối với nhiệm vụ phát triển công nghiệp an ninh mạng tự chủ, cần nghiên cứu xây dựng cơ chế đầu tư cho phát triển hệ sinh thái an ninh mạng, đặc biệt là hệ sinh thái Make in Vietnam; ưu tiên làm chủ và sản xuất nội địa các sản phẩm an ninh mạng cốt lõi, nền tảng; Hình thành các trung tâm nghiên cứu, vườn ươm hỗ trợ khởi nghiệp và không gian đổi mới sáng tạo để hỗ trợ doanh nghiệp.
Ưu tiên sử dụng các sản phẩm, giải pháp nội địa đáp ứng được các tiêu chuẩn, quy chuẩn trong các dự án, hệ thống trọng yếu nhằm vừa tạo thị trường, vừa thúc đẩy và hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam phát triển. Đồng thời, xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về mã dân sự để bảo vệ an ninh mạng.
Để bảo đảm nguồn lực tài chính, ngân sách, Kế hoạch 04 yêu cầu rõ quy định an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu là thành phần bắt buộc trong mọi dự án công nghệ thông tin; bảo đảm tỉ lệ kinh phí bình quân chi cho các sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu đạt tối thiểu 15% trong tổng kinh phí triển khai đề án, dự án, chương trình, kế hoạch đầu tư, ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin, bảo đảm hiệu quả, đúng quy định, tránh lãng phí. Nghiên cứu sửa đổi bổ sung các quy định pháp luật có liên quan để tạo cơ chế thông thoáng trong đầu tư, triển khai an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu.